Phát triển dòng tín dụng xanh trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang được “xanh hóa”

Phát triển dòng tín dụng xanh trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang được “xanh hóa”

ThS. Trần Trọng Phong và Thiều Thùy Hương1

Đứng trước những thách thức to lớn từ hậu quả của biến đổi khí hậu, Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp để giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, đảm bảo môi sinh – môi trường. Giải pháp về tài chính, trong đó có chính sách “tín dụng xanh” được xem là có hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, từ đó góp phần hướng tới phát triển kinh tế bền vững. Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức về tình hình phát triển dòng tín dụng xanh tại Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, để tín dụng xanh có thể phát huy hết tiềm năng trong tương lai, các ngân hàng và doanh nghiệp phải có những cam kết thực sự mạnh mẽ. Bên cạnh đó, để đi đến thành công, cần có sự hỗ trợ chặt chẽ của nhiều bộ, ban, ngành như: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường…

Mở đầu

Môi trường và phát triển có mối quan hệ vô cùng đặc biệt, môi trường là đối tượng và cũng chính là địa bàn để phát triển, trong khi đó phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường. Trong mối liên kết đặc thù giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ngân hàng đóng vai trò như một mắt xích trung gian có tác động một cách gián tiếp đến môi trường thông qua hoạt động của khách hàng. Công tác quản lý môi trường trong ngân hàng có nhiều nét tương đồng với quản lý rủi ro. Việc kiểm soát chất lượng danh mục các khoản vay không những giúp ngân hàng giảm thiểu một cách tối đa tổn thất có thể xảy ra, mà còn gia tăng giá trị sinh lời cũng như uy tín cho ngân hàng. Do đó, một trong những trách nhiệm của ngân hàng là tích cực và chủ động quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong điều hành hoạt động nội bộ, đồng thời chủ động tìm kiếm và khai thác những sản phẩm và cơ hội kinh doanh thân thiện với môi trường.

Tín dụng xanh chỉ những khoản tín dụng mà ngân hàng cấp phát cho các dự án sản xuất kinh doanh không gây rủi ro hoặc nhằm mục đích bảo vệ môi trường (Hương, 2015). Tăng trưởng tín dụng xanh đã phát triển từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam vấn đề này dường như vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Với mục đích hướng tới các dự án tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ sạch, các sản phẩm tín dụng xanh góp phần đem lại những lợi ích to lớn về phát triển nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh. Thông qua việc giảm các tác động tiêu cực của khối doanh nghiệp đến môi trường – xã hội, tín dụng xanh không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường mà còn góp phần vào quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế. Vì vậy, phát triển dòng tín dụng xanh là một hành động rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

1. Một số bước đi của ngân hàng trong việc phát triển dòng tín dụng xanh

Trên thế giới, các định chế tài chính lớn như World Bank (WB), Công ty Tài chính quốc tế (IFC), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã có bộ tiêu chuẩn về môi trường xã hội mà các dự án và đối tác vay vốn hoặc nhận tài trợ của họ phải tuân theo, trong đó phải kể đến “Nguyên tắc xích đạo”. Nguyên tắc xích đạo là bộ tiêu chuẩn mang tính chất tự nguyện cho ngành dịch vụ tài chính nhằm xác định, đánh giá và quản lý các rủi ro môi trường, xã hội trong các dự án một cách hệ thống và liên tục được xây dựng trên cơ sở tham khảo các chuẩn mực hiện có và nhu cầu của các nhà đầu tư tài chính (PanNature, 2010). Các định chế tài chính áp dụng bộ nguyên tắc này với mong muốn đảm bảo rằng các dự án họ tài trợ, tư vấn sẽ được triển khai một cách có trách nhiệm đối với xã hội, quản lý môi trường bền vững, đồng thời vẫn mang lại những kết quả kinh tế tích cực.

Mỹ là một trong những cường quốc tiên phong với việc ban hành đạo luật Bồi hoàn môi trường toàn diện – CERCLA với mục đích quy định trách nhiệm của tất cả các bên liên quan, bao gồm doanh nghiệp gây ô nhiễm và các ngân hàng cho vay vốn các công trình, dự án gây ô nhiễm. Vụ việc tập đoàn tài chính Fleet Factor bị xử phạt do có đầu tư và liên đới trực tiếp đến một công trình gây ô nhiễm năm 1990 đã phát huy sức ảnh hưởng của CERCLA (PanNature, 2012). Cũng từ sau vụ việc trên, các ngân hàng Mỹ đã có ý thức hơn trong việc đầu tư có trách nhiệm với môi trường. Brazil, Trung Quốc là hai cái tên tiếp theo tiến hành chính sách Tín dụng xanh và Nghị định thư xanh (Green Protocol) đều với mục tiêu thiết lập các chuẩn bền vững cho các ngân hàng thương mại (Phạm, 2015). Bên cạnh những nỗ lực của các quốc gia trong việc bảo vệ môi trường thì Liên Hiệp Quốc (LHQ) cũng có sáng kiến của Chương trình môi trường LHQ, nguyên tắc đầu tư có trách nhiệm của LHQ…

Tại Việt Nam, việc ra đời Chỉ thị 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Ngân hàng Nhà nước về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng đã cho thấy một động thái tích cực mang tầm cỡ quốc gia nhằm thực hiện kế hoạch Tăng trưởng xanh của toàn ngành kinh tế. Nội dung của chỉ thị nêu rõ, hoạt động cấp tín dụng của ngành Ngân hàng cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng; cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững. Đối với các tổ chức tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu chủ động triển khai xây dựng chương trình, chính sách tín dụng xanh nhằm tăng dần tỉ trọng tín dụng xanh trong cơ cấu doanh mục đầu tư tín dụng của mình; khuyến khích nghiên cứu xây dựng và triển khai các giải pháp quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Hằng quý, các tổ chức tín dụng phải báo cáo định kết quả triển khai tăng trưởng tín dụng xanh (Hương, 2015).

Một trong những điểm sáng đáng chú ý là chính sách tín dụng “xanh” của Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua việc thực hiện chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình đã mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường, cải thiện môi sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân vùng nông thôn. Với chương trình này, hộ nghèo khu vực nông thôn được vay tiền với lãi suất ưu đãi để xây dựng công trình nước sạch và vệ sinh. Mỗi hộ gia đình được vay tối đa 6 triệu đồng (mức cũ 4 triệu đồng) cho một công trình nước sạch hoặc một công trình vệ sinh, với thời hạn vay 5 năm kể từ ngày giải ngân. Mức vay tối đa để một hộ thực hiện cùng lúc cả 2 công trình là 12 triệu đồng/hộ (Thanh, 2014).

Về phía khối các ngân hàng thương mại, trên thực tế, trong vài năm gần đây, khá nhiều ngân hàng trong nước đã bắt đầu quan tâm tới tín dụng xanh. Các quy định về chính sách này đã thấy ở VietinBank, Techcombank, ABBank, Sacombank… Xu hướng tín dụng hướng tới phát triển toàn diện và bền vững có thể còn mạnh hơn trong thời gian tới với sự hỗ trợ mạnh mẽ về chính sách của cơ quan quản lý.

2. Tín dụng xanh: Cơ hội và thách thức?

Sau khi Việt Nam gia nhập TPP, nền kinh tế đứng trước sức ép vô cùng lớn từ các nước thành viên, sự lo ngại về tình trạng hàng hóa trong nước không thể cạnh tranh với các sản phẩm quốc tế đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết về việc chủ động mở rộng và nâng cao chất lượng các sản phẩm nội địa. Tuy nhiên, những cải tiến về chất lượng cũng cần phải song hành với những cải tiến về mô hình hoạt động nhằm đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường theo đúng hướng đi bền vững của nền kinh tế trong thời đại mới. Hiện nay, đa phần các doanh nghiệp trong nước đều ở trong tình trạng thiếu vốn, hàng loạt dự án, mô hình phát triển bền vững chưa thể triển khai vì cung ngân sách hạn hẹp. Nguồn lực cho tài chính xanh đang trở nên hết sức cần thiết. Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới cho thấy, những dự án tăng trưởng xanh thường gặp phải những khó khăn từ việc huy động vốn do Nhà nước chỉ đáp ứng được một phần khiêm tốn, còn lại là vốn tự có hoặc huy động từ các kênh khác. Đây chính là một mảnh đất đem lại nhiều lợi ích bền vững cho chính các tổ chức tín dụng (lợi nhuận, uy tín…), cho các doanh nghiệp được vay vốn cũng như cho cộng đồng. Có thể xem là dư địa thực tế mà các ngân hàng thương mại cần để tâm, nhất là trong bối cảnh thanh khoản và vốn đầu vào ngày càng tích cực hiện nay.

Mặc dù có tiềm năng rất lớn và mang lại cơ hội đổi mới công nghệ cho nền kinh tế hiện nay, tín dụng xanh vẫn còn gặp phải những trở ngại như:

a) Hành lang pháp lý chưa đầy đủ

Hiện nay, luật pháp Việt Nam chưa có các quy định đầy đủ liên quan trực tiếp tới việc các ngân hàng cần phải cân nhắc tới những rủi ro về môi trường và xã hội đối với những khoản vay tín dụng. Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật chỉ tập trung vào trách nhiệm của những đơn vị trực tiếp gây ô nhiễm. Việc này đã dẫn đến tâm lý chủ quan của các cán bộ tín dụng khi tiến hành thẩm định mà chưa chú trọng đến đánh giá các rủi ro về môi trường. Việc kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu thẩm định tín dụng có thể hạn chế những rủi ro về mặt môi trường, xã hội thông qua việc quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay vốn đối với những dự án có những dấu hiệu xấu. Do đó, một quy định có tính chất pháp lý có vai trò rất quan trọng để xác định những trách nhiệm liên đới của các ngân hàng trước sự cố môi trường. Từ đó, các ngân hàng sẽ cần phải cẩn trọng hơn trước những quyết định cho vay của mình để tín dụng vừa có thể đến tay nhà đầu tư một cách “chất lượng”, vừa đảm bảo được những điều kiện ràng buộc với pháp luật về các tiêu chí xanh, thân thiện với môi trường sống.

b) Hệ thống quản lý rủi ro chưa thực sự hoàn chỉnh

Theo khảo sát của Công ty Tài chính (IFC), tại Việt Nam, các nhóm doanh nghiệp chịu mức độ rủi ro môi trường – xã hội cao nhất là khai khoáng, nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa; Doanh nghiệp trong ngành chế biến, doanh nghiệp trong ngành xây dựng và cuối cùng là nông – lâm nghiệp. Nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm thị phần khách hàng tương đối lớn của các ngân hàng, tuy nhiên việc quản lý rủi ro tín dụng đối với nhóm khách hàng này lại chỉ tập trung vào các rủi ro cốt yếu mà chưa xem trọng đến việc quản lý rủi ro về môi trường – xã hội (Mẫn, 2012).

Việc áp dụng và thực hiện quản lí rủi ro về môi trường – xã hội của các ngân hàng còn gặp nhiều thách thức như: thiếu năng lực thể chế, thiếu thông tin về khách hàng và cam kết từ đội ngũ quản lý cấp cao, năng lực đánh giá rủi ro của các cán bộ ngân hàng còn gặp nhiều hạn chế…

Do chưa có quy định chính thức về hệ thống quản lý rủi ro môi trường, đa phần các cán bộ tín dụng trong số các ngân hàng chỉ kiểm tra trong hồ sơ xin vay vốn xem có bản đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt hay chưa, một số sẽ kiểm tra công nghệ xả thải và kế hoạch di dân (nếu có) của công trình/dự án, nhưng hầu hết đều dựa vào kinh nghiệm của người thẩm định chứ chưa có những quy định cụ thể của ngân hàng về vấn đề này. Tuy nhiên, hiệu quả của những bản đánh giá này vẫn còn là một vấn đề cần phải xem xét. Việc đánh giá tác động môi trường chỉ được xem như một việc làm cần thiết để xin giấy phép hoạt động, thay vì cân nhắc tính toán những tác động tiêu cực có thể xảy ra.

Một ví dụ điển hình khi xem xét các khoản tín dụng cho các dự án năng lượng, do thiếu kinh nghiệm về các công nghệ mới, các ngân hàng thường đánh giá rủi ro các dự án này còn cao dẫn đến việc vốn hỗ trợ bị cắt giảm đáng kể so với các dự án thông thường.

Tác dụng của hệ thống quản lý rủi ro không thể nhìn thấy trong ngắn hạn, ngay cả khi đã có một hệ thống quản lí rủi ro môi trường cơ sở, các ngân hàng vẫn có thể sẽ phải đối mặt với những khó khăn khi bắt đầu thực hiện việc quản lí rủi ro môi trường như: Chi phí hành chính để xây dựng môi trường và duy trị hệ thống quản lý, chi phí thuê chuyên gia tư vấn, chi phí đào tạo cán bộ quản lí cho những dự án có rủi ro cao… Điều này có thể lí giải cho việc các ngân hàng vẫn chưa thực sự mặn mà trong việc thực hiện áp dụng các nội dung quản lí một cách nghiêm túc và triệt để.

Đến năm 2012, hiện có một số ngân hàng thương mại Việt Nam có hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội, trong đó có hai ngân hàng sử dụng bộ tiêu chuẩn của IFC (Techcombank, Vietinbank), một ngân hàng (Sacombank) có tham khảo bộ tiêu chuẩn này nhưng cũng xây dựng chính sách riêng của mình (Hà, 2015). Việc áp dụng quản lí rủi ro môi trường – xã hội là một hành trình dài hướng tới phát triển bền vững, song để thực hiện được điều này không chỉ cần chủ động tổng hợp nguồn lực nội tại của các ngân hàng mà còn cần sự chỉ đạo từ các cơ quan cấp cao, các đối tác và tất nhiên là sự hợp tác từ các khách hàng của ngân hàng cho vay vốn.

c) Thiếu thông tin về tín dụng xanh

Những lợi ích về tín dụng xanh đối với công tác bảo vệ môi trường là rất lớn, tuy vậy, tại Việt Nam hoạt động này còn mới mẻ, thậm chí giải pháp về tài chính xanh còn ít, chưa có giải pháp ngân hàng xanh trong chiến lược tăng trưởng xanh. Các ngân hàng thương mại truyền thống chưa sẵn sàng cung ứng sản phẩm và dịch vụ tài chính xanh.

IFC đã phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành khảo sát thực tiễn về quản lý rủi ro môi trường và xã hội trên 54 tổ chức tín dụng có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Khảo sát của IFC tập trung vào các vấn đề chính như: Nhận thức, hiểu biết của các tổ chức tín dụng về vấn đề môi trường xã hội; việc xây dựng chính sách và quy trình quản lý rủi ro môi trường – xã hội; so sánh hoạt động quản lý rủi ro môi trường và xã hội ở Việt Nam với các thông lệ quốc tế…

Kết quả chỉ ra rằng, 89% số ngân hàng tham gia khảo sát không biết đến bất kỳ tài liệu hướng dẫn hay tiêu chí nào về quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong ngành tài chính. 93% các ngân hàng cũng cho rằng cần phải có hướng dẫn về vấn đề này (PanNature, 2012).

d) Nguồn lực tài chính còneo hẹp

Nguồn vốn cần để thực hiện tín dụng xanh là rất lớn, song không phải tất cả các ngân hàng đều hào hứng tham gia. Những dự án thân thiện với môi trường đều đi kèm với những khó khăn gây bất lợi đối với các ngân hàng như: Thời hạn quá dài, tài sản đảm bảo không đủ chắc chắn, khoản vay quá lớn, yêu cầu năng lực thẩm định cao… Do đó, các ngân hàng đều mang tâm lý e ngại trước một dự án tín dụng xanh có nhu cầu vốn đầu tư lớn. So với các sản phẩm truyền thống, tín dụng xanh có tỉ lệ rất nhỏ và hầu như không đáng kể trong cơ cấu các sản phẩm tín dụng của các ngân hàng.

Hiện nay, nguồn tài chính cho các chính sách Tín dụng xanh chủ yếu đến từ Quỹ ủy thác tín dụng xanh (Green Credit Trust Fund) với sự tham gia của các bên bao gồm trong và ngoài nước (Hằng, 2011). Các ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia như ACB, Techcombank và VIB chỉ đóng vai trò như đánh giá khách hàng về hiện trạng tài chính, đàm phán và thiết lập các điều kiện cho vay với doanh nghiệp, quản lý việc giải ngân và thu hồi vốn vay, khai thác nguồn khách hàng mới và tập trung quảng bá… còn việc cấp ngân sách cho Quỹ hoàn toàn do cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ. Những dự án được xem xét buộc phải tuân thủ những tiêu chí nghiêm ngặt về quy mô công ty, hình thức sở hữu, tình trạng doanh nghiệp, ngành nghề, quy mô tín dụng… Mặc dù có những ngoại lệ trong quá trình xét duyệt nhưng số lượng doanh nghiệp nhận được hỗ trợ còn rất khiêm tốn.

Nguồn cung ít không thể đáp ứng được cầu về tín dụng xanh cho các doanh nghiệp, bài toán về vốn vẫn còn là một sự trăn trở không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với cộng đồng các ngân hàng.

3. Đề xuất hướng giải quyết

Ngân hàng Nhà nước cần có giải pháp cụ thể trong kế hoạch tín dụng xanh thông qua việc xây dựng những chiến lược mang tính dài hạn, các chính sách hỗ trợ để tín dụng xanh phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

ngân hàng đối với những khoản cho vay tiềm ẩn nhiều rủi ro về môi trường. Ngân hàng Nhà nước cũng nên phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để xây dựng bộ tiêu chuẩn đầy đủ về môi trường cho các ngành nghề, lĩnh vực để các ngân hàng có căn cứ thẩm định, đánh giá tác động về môi trường – xã hội theo các quy định trong thẩm định rủi ro. Cân nhắc bổ sung, ưu tiên nguồn vốn để phát triển tín dụng xanh cũng là một việc nên làm. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước có thể thông qua các công cụ của mình để khuyến khích các ngân hàng thương mại cùng tham gia hỗ trợ phát triển tín dụng xanh như nghiên cứu có thể giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc có những ưu đãi đối với các ngân hàng có tỷ trọng tổng dư nợ đạt đến mức nhất định được đánh giá là dư nợ tín dụng xanh; điều chỉnh tỷ lệ quy đổi của khoản dư nợ tín dụng xanh xuống mức thấp hơn khoản tín dụng khác khi tính toán tài sản Có rủi ro; tăng tỷ lệ nợ xấu cho phép của ngân hàng phát triển tín dụng xanh nhằm khuyến khích các ngân hàng thương mại dành vốn cho vay các dự án, phương án xanh của khách hàng, sản phẩm tín dụng cần được thẩm định đầy đủ về rủi ro môi trường, xã hội…

Các ngân hàng cũng cần chú trọng việc nâng cao, bồi dưỡng trình độ cán bộ, phát triển năng lực đội ngũ quản lý thông qua các chương trình đào tạo, các hội thảo có sự tham gia của các nước đã có kinh nghiệm về tín dụng xanh trên thế giới. Công tác truyền thông cũng nên được đẩy mạnh để các thông tin, chính sách về tín dụng xanh được đến gần với các cán bộ và các doanh nghiệp có nhu cầu một cách nhanh chóng và cập nhật nhất.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần nghiên cứu khả năng về bảo lãnh cho các dự án đầu tư xanh; hoàn thiện những quy định hiện hành theo hướng khuyến khích các ngân hàng triển khai tín dụng xanh, đồng thời phối hợp với các nhà tài trợ để học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Các đóng góp, thành tựu về tín dụng xanh cũng cần được ghi nhận và tuyên dương để các ngân hàng có thêm động lực thực hiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Hà, L. (2015), Ngân hàng tính đường phát triển tín dụng xanh, truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016, <http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/242165/ngan-hang-tinh-duong-phat-trien-tin-dung-xanh.html>

2. Hằng, N. (2011), Giới thiệu về Quỹ Ủy thác Tín dụng xanh (GCTF)

3. Hương, L. (2015), Đẩy mạnh tăng trường tín dụng xanh, truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016, <http://laodong.com.vn/tien-te-va-dau-tu/day-manh-tang-truong-tin-dung-xanh-311276.bld>

4. IFC (2012), IFC and the State Bank of Vietnam to Push for Better Environmental and Social Risk Management, truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2016, <http://ifc.org/wps/wcm/connect/topics_ext_content/ifc_external_corporate_site/cb_home/news/feature_vietnam_aug2012>

5. Mẫn, N. (2012), Ngân hàng và khoảng trắng quản lý rủi ro môi trường – xã hội, truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2016, <http:// http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/ngan-hang-va-khoang-trang-quan-ly-rui-ro-moi-truong-xa-hoi-20120828022027958.chn>

6. Ngân hàng Nhà nước (2015), Chỉ thị 03/CT-NHNN.

7. PanNature (2012), “Xanh hóa” ngành Ngân hàng: áp dụng chuẩn mực bắt buộc hay khuyến khích tham gia tự nguyện? Bản tin Chính sách Số 7, Quý III/2012, tr. 1-3.

8. PanNature (2010), Nguyên tắc Xích Đạo: Chuẩn mực môi trường – xã hội tự nguyện cho các nhà đầu tư tài chính, truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016, <http://nature.org.vn/vn/2010/11/nguyen-tac-xich-dao/>

9. Phạm, Đ. (2015), Tín dụng xanh nhìn từ kinhh nghiệm của Trung Quốc và Brazil, truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016,< http://thoibaonganhang.vn/tin-dung-xanh-nhin-tu-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-brazil-33595.html>

10. Thanh, N. (2014), Chính sách tín dụng “Xanh”, truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016, <http://vbsp.org.vn/chinh-sach-tin-dung-xanh.html>

1 ĐH Kinh tế Quốc dân

Nguồn: sbv.gov.vn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *